Pháp
Lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo
Nh́n
từ khía cạnh lịch sử
Đỗ
Mạnh Tri
(Bài
thuyết tŕnh trong buổi hội luận do Phong Trào Giáo Dân VN Hải Ngoại
Cơ Sở Thánh Tống Viết Bường tổ chức tại TP. Ginsheim/Gustavsburg
–Mainz, Đức Quốc)
* * *
Người
ta đă nói nhiều, viết nhiều về Pháp lệnh Tín
ngưỡng Tôn giáo của Ban Thường vụ Quốc
hội VN, số 21/2004/PL.UBTVQH11, kư Nguyễn Văn Ân,
được ban hành ngày 18/06/2004, hiệu lực ngày
15/11/2004. Chúng tôi cũng có kư tên chung với nhiều tác
giả bài Một Pháp lệnh về tôn giáo, tại sao ?[i]
Nhưng Pháp lệnh là con đẻ của Nghị
quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá IX về công tác Tôn giáo, ra
hồi tháng 01/2003. Nghị quyết loan báo một Pháp
lệnh, dẫn tới một đạo luật về tôn
giáo. Đây là một bộ ba, nhằm pháp chế hoá chính
sách đàn áp tôn giáo của đảng CSVN. Nhưng
bộ ba này tiếp nối một chuỗi những
sắc lệnh, chỉ thị, nghị quyết, nghị
định của Đảng/Nhà nước cộng
sản về công tác tôn giáo. Để đánh giá đúng
mức ư nghĩa của nó, chúng tôi đề nghị
đặt Pháp lệnh này vào viễn tượng của
những văn bản kia, ḥng có một cái nh́n khái quát
như một vài nét chấm phá, về tiến tŕnh
chuyển đổi của đất nước từ
khi đảng cộng sản nắm toàn quyền ở
miền Bắc năm 1954, và trên toàn lănh thổ Việt
Nam năm 1975. Nh́n từ góc độ này, Pháp lệnh
đánh dấu một bước lùi quan trọng của
chính quyền độc tài, đồng thời cho ta
thấy cách chính quyền thích ứng với hoàn cảnh
ra sao.
Những văn bản.
Trước
hết, phải nói ngay để khỏi cần nhắc
đi nhắc lại : ở đâu có chính quyền
cộng sản và bao lâu c̣n chính quyền cộng sản,
th́ nhân quyền bị chà đạp, tự do bị dày xéo
và v́ thế tôn giáo bị áp bức. Đây là thực
tại. Không cần minh chứng dài ḍng. Tuy nhiên, với
thời gian, chính sách đàn áp tôn giáo của chính
quyền cộng sản Việt Nam có thay đổi.
Những văn bản chính thức về tôn giáo chứng
minh điều đó.
Chúng tôi
không có hết những văn bản, công văn của
đảng cộng sản Việt Nam về chính sách tôn
giáo. Nhưng, những văn bản chính, mọi người
quan tâm đến vấn đề đều đă đọc
hoặc nghe nói tới. Và chừng ấy cũng đủ.
Sau đây là một danh sách xếp thành 3 nhóm. (Nhóm 1, 2 ;
nhóm 3, 4, 5 ; nhóm 6 tới 9) :
- Sắc lệnh 234/SL của Nhà nước
Việt Nam về Quyền Tự do Tín ngưỡng ra ngày
11/11/1955. Kư HCM.
- Nghị quyết 297/HĐBT của
Hội đồng Bộ trưởng, tức của Chính
phủ, ra ngày 11/11/1977 nhằm áp đặt cho miền
Nam chính sách đàn áp tôn giáo tại miền Bắc.
- Nghị quyết 24 của Bộ Chính
trị ra năm 1990, đánh dấu sự thay đổi
lập trường của đảng CSVN về tôn giáo.
- Nghị định 69/HĐBT ra ngày
21/03/1991 thay thế cho Nghị định 297/HĐBT.
- Chỉ thị 379/TTg của Thủ tướng
Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, ra ngày
23/07/1993.
- Chỉ thị của Bộ Chính
Trị về công tác tôn giáo trong t́nh h́nh mới. Ra ngày
02/7/1998.
- Nghị định 26/1999/CP của Chính
phủ về các hoạt động tôn giáo. Ra ngày
19/04/1999. Trước đó có Dự thảo cho Nghị
Định.
- Nghị quyết Hội nghị
lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương
về công tác tôn giáo. Ra tháng 01/2003.
- Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo
số hiệu 21/2004/PL.UBTVQH11 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội. Ra ngày 26/11/2003. Quy đinh về
hoạt động tín ngưỡng tôn giáo.
Pháp
lệnh này được soạn sau 22 bản Dự
thảo!
(Ngoài ra,
có mấy văn kiện liên quan đến Tin Lành, đặc
biệt Tin Lành miền Thượng Du và Tây Nguyên : Vấn
đề Địch lợi dụng Tôn giáo của Ban
Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lào Cai, cuối năm 98 ;
và Thư của chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang
gửi đồng bào dân tộc Mông cùng với Bản
cam kết (bỏ đạo), năm 1997. Kế
hoạch 184 A, Kế Hoạch 184 B, năm 1999).
Danh sách
trên cho thấy từ năm 1955 đến 1990, trong ṿng 35
năm chỉ có 2 văn kiện. Từ năm 1990, nhất
là từ năm 1998 đến nay, số văn bản
nhiều hẳn lên. Nghị quyết 24 BCT năm 1990 chính
thức băi bỏ ư đồ tiêu diệt tôn giáo. Nhưng
cho tới năm 1998 chỉ có 3 văn kiện. Từ năm
1998 tới nay, trong ṿng 6 năm, chúng ta có 4 văn bản
chính. Những văn bản này lại được ra
sau những văn kiện mật, công khai, bán công khai (Ư
kiến của Hội đồng Tư vấn về tôn
giáo, Dự thảo của Ban Kế hoạch 184 A, 184 B,
Dự thảo Nghị đinh 26. Đặc biệt mấy
chục bản Dự thảo Pháp Lệnh. Tại sao có
sự chênh lệch về số lượng văn bản
qua thời gian như thế ? Để trả lời,
xin trích mấy câu đầu của Nghị quyết BCHTƯ
:
“Qua các
giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà
nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là
vấn đề chiến lược có ư nghĩa rất
quan trọng.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, chính sách “ Tín
ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết ” do
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đă góp
phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân
kháng chiến thắng lợi, giành độc lập
thống nhất hoàn toàn cho đất nước.
Trong cách mạng xă hội chủ nghĩa, vấn
đề tôn giáo có những nội dung mới. Năm
1990, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác
tôn giáo, xác định “Tôn giáo là vấn đề c̣n
tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù
hợp với công cuộc xây dựng xă hội mới”.
Xin
bỏ ngoài : sự nghiệp đoàn kết toàn dân
(chỉ là gây chia rẽ, oán thù và buộc chặt dân vào
gọng ḱm của Đảng), giành độc lập (để
xoá hết tự do), thống nhất đất nước
(để chiếm đoạt và khống chế toàn
đất nước). C̣n lại ư nghĩa rất quan
trọng của công tác tôn giáo. Hoạt động tôn giáo
liên quan tới mọi lănh vực của nếp sống cá
nhân và xă hội, mà v́ thế không thể không chạm trán
với chính thể độc tài toàn trị, một cách
không thực tiễn bằng kinh tế nhưng rộng răi
và sâu xa hơn kinh tế nhiều. Vậy tôn giáo vận,
hay công tác tôn giáo đúng là vấn đề chiến lược
hàng đầu của đảng.
“Trong cách
mạng dân tộc dân chủ”, tức khi đảng
c̣n dùng lá bài dân tộc dân chủ để đánh
lừa thiên hạ th́ “ Tín ngưỡng tự do, lương
giáo đoàn kết”. Kỳ thực ư đồ
chủ yếu là tiêu diệt lương (Phật giáo) cũng
như giáo (Công giáo), ‘thuốc phiện của dân’. Ư
đồ ấy bị hao ṃn dần trước những
biến chuyển của thế giới, trước
sức ép bên ngoài và bên trong, đặc biệt từ bên
trong (điều mà những người bên ngoài ít chú ư).
“Trong cách
mạng xă hội chủ nghĩa”, tức từ khi
đảng lẳng lặng quay lưng lại thuyết mác
xít lêninít, th́ đảng thay đổi chiến lược.
“Vấn đề tôn giáo có những nội dung
mới” là thế! Năm 1990, đảng chính thức
từ bỏ ư đồ tiêu diệt tôn giáo. V́ “Tôn
giáo là vấn đề c̣n tồn tại lâu dài”. Chắc
chắn lâu dài hơn đảng. V́ “Tín ngưỡng,
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân”. Ít nhất cũng là của một
bộ phận rất lớn! (Trong một văn kiện khác,
đảng nói : của hàng chục triệu người).
Hơn nữa : “Đạo đức tôn giáo có
nhiều điều phù hợp với công cuộc xây
dựng xă hội mới”. Chẳng những công
nhận tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của nhân
dân, mà c̣n coi tôn giáo như có lợi cho công cuộc xây
dựng xă hội, đảng cộng sản Việt Nam có
tiến bộ. Nói cách khác, có nhượng bộ. Tất
nhiên, không v́ thế mà
đảng để tôn giáo tự do. Có điều, càng
ngày đảng càng lúng túng và bị động (như
sẽ bàn sau). Ta hăy xét qua từng giai đoạn.
Thừa thắng xông lên.
Sắc
lệnh số 234-SL về tôn giáo, ra ngày 14/06/1955, kư
Hồ Chí Minh, có những điều đọc rất
được. Thí dụ :
Điều
5. Các tôn giáo được mở trường đào
tạo những người chuyên hoạt động tôn
giáo của ḿnh.
Điều
13. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn
giáo.
Riêng
về công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa Giáo
Hội Việt nam với Toà Thánh La-mă là vấn đề
nội bộ của công giáo.
Điều
15. Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là
một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân
chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi
ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện.
Sắc
lệnh ra năm 1955. Nhưng 1955 là sau 1954 với cuộc
di cư vĩ đại, là thời điểm của
Cải cách ruộng đất, của Nhân văn Giai
phẩm. Trong một sắc lệnh đầy cấm đoán,
cũng nói thế cho nó đẹp, nhưng tôn giáo ngoài
Bắc bị cấm cách, đàn áp thế nào, ngày nay ai cũng
biết.
Phật
giáo : xem thư của HT Thích Quảng Độ
gửi ông Đỗ Mười, Tổng bí thư đảng
CSVN năm 1994 và Bản Nhận Định của cùng tác
giả viết năm 1992[ii].
Trích một đoạn của bản Nhận định :
“ Trước năm 1954, chùa Quán Sứ là trụ
sở Trung ương của Giáo hội Phật giáo
miền Bắc, trong đó có viện Phật học đào
tạo tăng ni, trường trung học Khuông Việt
dạy chương tŕnh thế học, nhà in Đuốc
Tuệ in nguyệt san Phương Tiện và kinh sách,
có thư viện v.v… nhưng sau khi cộng sản
tiếp thu Hà Nội th́ viện Phật học giải tán
để tăng ni ở đâu về đó lo việc tăng
gia sản xuất, trường trung học Khuông Việt
đóng cửa, thư viện khoá kín, nguyệt san Phương
Tiện đ́nh bản và nhà in Đuốc Tuệ
bị chiếm dụng. Nghĩa là tất cả
mọi hoạt động của Giáo hội hoàn toàn
bị đ́nh đốn, hệt như trong miền Nam năm
1975 ” .
Tin Lành
bị o ép vào Mặt trận Tổ quốc, làm chậu
kiểng để đảng lợi dụng thu hút tài
trợ của Tin Lành ngoại quốc. Công việc điều
hành bị Ban tôn giáo chi phối và áp đặt một cách
lộ liễu, thô bạo. Như trường hợp Phó
Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam, Lê Văn Dươn[iii].
Công
giáo : Đc Trịnh Như Khuê, Tgm Hà nội bị
tịch thu giấy tờ từ hồi tháng 7 năm 1957
trong khi ngài đi thăm các xứ đạo. Từ đó,
kể như ngài bị giam lỏng trong toà giám mục. Ḍng
Chúa Cứu Thế bị chiếm đoạt, cũng như
Toà Khâm sứ cạnh toà giám muc Hà Nội… Ấy là chưa
nói tới những sách báo tuyên truyền chống phá tôn
giáo. Đăc biệt Công giáo (coi những tiểu
thuyết của Chu Văn, của Nguyễn Khải
được in đi in lại).
Đủ
chứng tỏ một lần nữa, người cộng
sản nói một đàng làm một nẻo. Với
một sắc lệnh cởi mở nhất về vấn
đề tôn giáo, các tôn giáo cũng đă bị bách
hại nhiều nhất tại miền Bắc.
Năm
1975 : thừa thắng xông lên. Rất vội vàng như
ta biết. Đảng cộng sản hấp tấp
lột mặt nạ. Đúng là tiến nhanh, tiến
mạnh : nghiền nát hết những ǵ không hoàn toàn
chính thống theo quan niệm của đảng. Không
chỉ có Mỵ/Nguỵ, mà cả những người, nhóm
từng đi theo đảng hay chủ trương đối
thoại với đảng. Nỗi sợ hăi dần
dần ngấm vào xương tuỷ người dân
miền Nam. Thống nhất đất nước đơn
thuần là áp dụng chính sách toàn trị của miền
Bắc cho miền Nam. Nói cách khác : tái diễn
những cái thường được lầm gọi là
‘sai lầm’[iv]
ngoài Bắc tại miền Nam. Lănh vực tôn giáo không
nằm ngoài kế hoạch ác độc đó. Và đó
chính là mục tiêu của Nghị định 297/HĐBT ra
ngày 11.11.1977 : áp dụng chính sách đàn áp tôn giáo
tại miền Bắc cho miền Nam. V́ thế mà có chương
tŕnh thống nhất Phật Giáo[v], Uỷ ban Đoàn
kết Công giáo yêu nước (là yêu chủ nghĩa xă
hội) v.v… Những năm này là thời kỳ vênh váo,
tự măn và thiển cận nhất của đảng
cộng sản Việt Nam. Cũng là lúc họ bắt
đầu xuống dốc, khi phong trào tị nạn
cộng sản chấn động thế giới,
chiến tranh bùng nổ ở biên giới với Trung
cộng và Việt Nam bị sa lầy bên Campuchia..
Trong khi
đó bên Trung Quốc Đặng Tiêu B́nh lẳng lặng
chuyển theo kinh tế thị trường mặc dầu
miệng vẫn hô to xă hội chủ nghĩa. Nguyễn Văn
Linh cởi trói. Để giữ đảng. Rồi
vội trói lại trước những biến cố bên
Ba lan. Nhưng quá muộn. Về kinh tế th́ rơ như ban
ngày : không c̣n ăn bám vào khối Comecon được
nữa khi mà Nga Xô đă sụp. Phải nới lỏng thôi.
Mở cửa hay chết đói. Về tự do, nhân
quyền, dù đàn áp vẫn có Phong trào Những người
kháng chiến cũ với Nguyễn Hộ ; nhóm Đà
lạt với Bùi Minh Quốc, Bảo Cự và nhất là
Hà Sĩ Phu ; những nạn nhân của Vụ án xét
lại ngoài Bắc ngỏng đầu ; PGTN với HT
Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, càng ngày càng
mạnh. Trong khi rất nhiều tăng ni của PG gọi
là quốc doanh cũng sống trong t́nh trạng bất
đắc dĩ. Dân miền thượng theo Kitô giáo càng
ngày càng nhiều, ngay tại miền Bắc. Phía Công giáo
dù bị đặc biệt chiếu cố, vẫn kiên
vững : 1988 vụ tuyên thánh tử đạo VN. 1989 :
thư của 20 linh mục và giáo dân tố cáo chính sách
toàn trị, đàn áp tôn giáo. 1990 : sau 4 bài giảng
của lm Chân Tín, chính quyền phải bắt ông và ông
NNLan lưu đày và quản thúc. Đồng thời
mở chiến dịch rầm rộ như chưa từng
có trên báo đài nhằm lên án hai ông.
Trong
vụ này, Mặt trận Tổ quốc đă triệu
tập giới Công giáo Sài g̣n và Đồng nai bắt
‘học tập cải tạo’ nhằm răn đe
những người thắc mắc và cô đơn hoá
những người cứng đầu như Chân Tín. Ông
bộ trưởng Bộ nội vụ Mai Chí Thọ, trước
một cử toạ gồm nhiều giáo sĩ, tu sĩ và
Đc Nguyễn Minh Nhật,
chủ tịch HĐGM/VN, nói một câu để đời :
“Nếu các vị không đi với chúng tôi, th́ có nghĩa
là các vị không thể đoàn kết với chúng tôi, mà
cũng có nghĩa là các vị chống chúng tôi, không
thể có nghĩa nào khác!”. Thời cuộc đă thay
đổi mà ông Mai Chí Thọ không biết ? Hay ông
biết, nhưng cố t́nh nạt nộ ? Khi sợ hăi
đă hằn sâu vao tâm can con người, th́ những
kiểu nạt nộ như thế vốn có hiệu
quả.
Thay đổi
chiến lược.
Thật
ra, người cộng sản thừa biết chế độ
toàn trị của họ đă hết thời. Cụm
từ theo định hướng xă hội chủ nghĩa
có nghĩa chính xác là vứt chủ nghĩa xă hội
khoa học vào sọt rác của lịch sử, nhưng
giữ lại guồng máy độc tài toàn trị
được chừng nào hay chừng nấy và được
chỗ nào hay chỗ nấy (trên Tây Nguyên chẳng
hạn, cứ thẳng thừng áp dụng mô h́nh stalinít,
nhưng tại Tp HCM th́ bó buộc phải có thái độ
khác).
Trong lănh
vực tôn giáo, sự thay đổi chiến lược
được chính thức hoá từ năm 90 với
Nghị quyết 24 của BCT. Trước đó, chính sách
của đảng thực sự là tiêu diệt tôn giáo. Bây
giờ, BCT nh́n nhận : “Tôn giáo là vấn đề
c̣n tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”.
Thực tế, sau bao nhiêu cấm cách, Đảng
thấy ḿnh thất bại thê thảm. Ư hệ cộng
sản bị dân chán ghét, trong khi tôn giáo vững mạnh
và bành trướng hơn khi nào hết. Đặc
biệt Tin Lành. Và trong Tin Lành, đặc biệt tại vùng
Thượng miền Bắc và Tây Nguyên miền Nam, nơi
những đồng bào sắc tộc. Công nhận “Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân”, là công nhận rằng
ư đồ tiêu diệt tôn giáo chẳng những hăo
huyền mà c̣n nguy hại cho đảng.
V́ thế có Nghị định 69/HĐBT năm 91,
thay thế cho cái Nghị quyết thừa thắng xông lên
297/HĐBT của năm 1977. Vấn đề là nếu
đă coi tôn giáo như một nhu cầu tinh thần
của nhân dân th́ phải để nhân dân thoả măn
nhu cầu đó : phải có tự do tôn giáo. Nhưng
có tự do tôn giáo th́ c̣n ǵ độc tài ? Thành ra
đảng cứ phải vừa khẳng định
vừa phủ định tự do tôn giáo. Cụ
thể, tự do tôn giáo nhưng. Và đàng sau cái ‘nhưng’
kia là một loạt cấm đoán rất tuỳ
tiện. Theo một chứng nhân tại chỗ, NN Lan, khi
nghị định 69 vừa ra, “ ai cũng chê, nghe đâu
cả mấy ông ‘yêu nước’ cũng chê. Có lẽ
v́ những phản ứng đó, Ban tôn giáo Tp HCM mới
ra Đề cương giải thích Nghị định
69/HĐBT về các hoạt động tôn giáo, nhằm
thoa dịu dư luận”.
Nội
dung Đề cương khởi đầu như sau :
“1.Những
căn cứ của chính sách
- Tôn
trọng tự do tín ngưỡng.
- Phát huy
đoàn kết.
- Nh́n
nhận tự do tín ngưỡng là một trong những
quyền tự do dân chủ của nhân dân.
- Chủ
nghĩa thực dân, đế quốc, phản động
lợi dụng tôn giáo nhất là sau vụ Đông Âu.”
Ba câu
đầu ngon lành. Câu 4 tḥ đuôi và khiến nghi ngờ
câu 2 : lợi dụng tôn giáo có nghĩa không đoàn
kết với Đảng/Nhà nước. Bằng chứng :
sau đó là “phaỉ có phép”, “phaỉ có phép”… Nguyễn
Ngọc Lan tóm tắt kết luận : Mọi sự
phải xin phép. Cho hay không tuỳ người ta. Chỉ có
cầu kinh là tự do. (Tin Nhà số 4, tr 16)
Cho hay không
tuỳ người ta! Thử tưởng tượng,
một lực sĩ Việt Nam được giải vàng
ở Thế vận hội, phải xin phép Nhà nước
Việt Nam để được lĩnh giải! Xin phép
để làm những điều ḿnh có quyền làm, có
bổn phận làm, nhất là lại xin phép một
quyền lực không có thẩm quyền, th́ thật vô
lối.
Nhưng
đứng từ phía chính quyền độc tài, đă
tới lúc không thể không chấp nhận một mức
tự do tôn giáo nào đó. Điều chính quyền không
cho phép, th́ cũng sẽ cứ xảy ra. Chi bằng cho phép
để c̣n nắm được thế thượng
phong. Tất cả sự nh́ nhằng phức tạp ở
đó. Chính quyền, thay v́ khai trừ những tự do không
thể khai trừ, chấp nhận một số tự do
nhưng giữ và để giữ trong ṿng kiểm soát
của ḿnh. Về phía các giáo hội, nín thở qua sông,
chờ cơ hội. Trong khi chờ đợi : tránh né,
chui ; chui thật, chui giả, chui công khai ; có khi
lấn tới, không xin phép, từ chối, phản đối.
Thí dụ ? Ai cũng biết Đc Nguyễn Kim Điền
ngay từ năm 1977 đă phản đối chính sách
đàn áp tôn giáo. Nhưng c̣n nhiều vị khác. Đc
Nguyễn Huy Mai, Gm Buôn Ma Thuột (Tin Nhà số 1, tr ;
11), là một trong những Gm có lập trường
rắn rỏi và cương nghị đối với chính
quyền cộng sản, ngài đă cấm không cho Uỷ
ban ĐKCGYN thành lập và hoạt động trong giáo
phận của ngài ; năm 1990 ngài bị chính
quyền cấm không cho đi dự cuộc họp của
Ban Thương vụ HĐGM/VN mà ngài là Phó Chủ
tịch I ; trong thư phản đối gửi chính
quyền, ngài viết : “Việc cấm cản
ấy không chỉ xâm phạm đến nghĩa vụ và
quyền lợi chính đáng của cá nhân tôi, mà c̣n
đụng chạm cách thô bạo đến cơ chế
và sinh hoạt nội bộ của HĐGM/VN, đồng
thời xúc phạm đến danh dự của toàn
thể Giáo hội Công giáo tại nước này”.
Đc Nguyễn Minh Nhật, Gm giáo phận Xuân Lộc,
Chủ tịch HĐGM/VN, nhân chuyến đi viếng ad
limina, đă có những lời tuyên bố thẳng
thắn về UBĐKCGYN, về chính sách đàn áp tôn giáo
của Hà Nội. Khi về bị làm khó dễ, đặc
biệt trong việc tổ chức mừng lễ kỷ
niệm 25 năm thành lập giáo phận. Trước
đó, “mọi mọi chuyện xem ra đă được
dàn xếp. Thế nhưng Đc vừa về th́ lại
được công văn của Nhà nước gửi
tới cho phép tổ chức lễ kỷ niệm ở Băi
Dâu như đă yêu cầu, nhưng hạn chế số
người tham dự không được quá 2000 người.
B́nh thường th́ cũng có thể chấp nhận
một sự cho phép như thế, chỉ gửi 2000
giấy mời rồi 20 000 người tự ư
tới th́ ai mà cản được. Nhưng Đc
Nhật đă “xin cám ơn” ngay thứ giấy phép như
vậy và cho biết sẽ không tổ chức lễ
lạc ǵ nữa hết. Nghe đâu phía Nhà nước
đă yêu cầu hoăn lại quyết định như
thế ba ngày để họ xem xét, bàn tính lại. Nhưng
Dc Nhật không đợi mà phổ biến ngay trong toàn
địa phận Xuân Lộc quyết định băi
bỏ việc tổ chức mừng lễ kỷ
niệm” (Nguyễn Ngọc Lan, Tin Nhà số 2, tr. 22).
Như
vậy, nếu chỉ đọc văn bản và quan sát
hiện tượng cách hời hợt th́ thấy tôn giáo
bị thắt chặt hơn. Nhưng thực tế th́ như
người nhà thường nói cách mỉa mai ‘zậy mà
không phải zậy’. Thời gian của Nghị quyết
24 của Bộ Chính Trị và Nghị định 69
của Hội đồng Bộ trưởng cũng là
thời gian, sau vụ phong thánh, Phái đoàn Toà thánh Vatican
sang Việt Nam, Đc Nhật, chủ tịch HĐGM/VN
hạ bệ Uỷ ban ĐKCGYN, thời gian của
những Kiến nghị cứng rắn của HĐGM/VN,
thời gian chính quyền nói chuyện trực tiếp
với Giáo phẩm... Chẳng cần phải là nhà quan sát
sâu sắc cũng có thể tiên quyết rằng nghị
định 69, ra năm 91, nhằm thực hiện chỉ
thị năm 91, không xoá nổi căng thẳng giữa
đảng và tôn giáo. Sửa đổi một chính sách
tôn giáo thực hiện từ năm 54 ngoài Bắc
(tức Sắc lệnh 24 của HCM và Nghị định
297/HĐBT) th́ thấm vào đâu khi thời cuộc đă
biến đổi một trời một vực.
V́
thế, hơn hai năm sau, lại phải đổi.
Đó là Chỉ thị 379/TTg của Thủ tướng Chính
phủ. Thông tấn xă Việt Nam đưa tin : “Sau
khi nêu rơ những thiếu sót, lệch lạc trong
thực hiện những quy định trong Nghị
định 69 và những hạn chế trong chính sách
tự do tín ngưỡng, Thủ tướng chính
phủ chỉ thị, các cấp chính quyền và Ban tôn giáo
các cấp cần xử lư đúng đắn các vấn
đề sau đây : ”(chúng tôi ấn mạnh).
Tiếp theo là một loạt những cho phép, cho phép,
tạo điều kiện. Như vậy th́ làm sao tránh
được “những hạn chế trong chính sách
tự do tín ngưỡng” ? Thiếu sót, lệch
lạc thuộc về bản chất của chế độ[vi].
Nhưng dù có thực hiện đúng đắn những
quy định trong Nghị định 69 cũng vẫn không
đủ. Thực tế,
có nhiều cái không cấm được nữa. Đó là
những cái trước kia không cho phép, bây giờ
phải cho phép. Như in ấn kinh sách, cử người
đi du học ở nước ngoài, sửa chữa cơ
sở thờ tự… Có thể nói, mỗi khi có văn
bản mới về tôn giáo là khi chính quyền lâm vào
thế bí và t́m cách đối phó.
Từ 6
năm qua, tức từ năm 1998, chỉ thị, nghị
định, nghị quyết, Pháp lệnh ra dồn
dập. Nhưng ra một cách khó khăn và biểu lộ
rơ thế bí của đảng cộng sản Việt Nam.
Chỉ thị của BCT năm 98 có tên là chỉ thị
về “công tác tôn giáo trong t́nh h́nh mới”. T́nh h́nh
mới là t́nh h́nh nào ? Trích Chỉ thị :“Hoạt
đông tôn giáo của một số tín đồ,
chức sắc ở một số nơi chưa theo đúng
pháp luật, như :tổ chức sinh hoạt tôn giáo,
in ấn, xuất nhập, lưu hành kinh sách, sử
dụng đất đai, xây dựng, sửa chữa nơi
thờ tự và huy động quá lớn sức dân, không
đúng quy định của pháp luật (…) Vẫn c̣n t́nh
trạng truyền đạo trái phép và lợi dụng tín
ngưỡng tôn giáo tiến hành các hoạt động gây
phương hại đến lợi ích quốc gia ”. Diễn
nôm : Nghị định 69/HĐBT năm 91 một
phần nào như nước đổ đầu vịt.
Cấm, bắt xin phép nhưng một số tín đồ,
tệ hơn, một số chức sắc cứ làm, không
xin phép ; cứ tiếp tục in ấn, xuất
nhập, lưu hành kinh sách chẳng hạn. Nhất là
tiếp tục truyền đạo trái phép, tiếp
tục lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo gây phương
hại đến lợi ích quốc gia, tức lợi ích
của đảng cộng sản.
Rơ ràng, đảng nhận ra rằng đảng không
ngăn cản nổi sự lan truyền của tôn giáo.
Ở một số nơi đảng ngang nhiên cấm
đạo (xem Vấn đề địch lợi
dụng tôn giáo và Thư chủ tịch UBND tỉnh Hà
Giang gửi đồng bào dân tộc Mông[vii]) nhưng đạo
cứ lan rộng. Đảng thú nhận : “Nhà nước
chưa kịp thời bổ sung các văn bản hướng
dẫn và quy định cụ thể về các hoạt
động tín ngưỡng tôn giáo phù hợp với t́nh
h́nh mới. Trong quản lư
vừa có biểu hiện cứng nhắc, lại vừa có
biểu hiện buông lỏng”. T́nh h́nh mới, mới
từ lâu rồi, nhưng cái kiểu lùi từng bước,
lùi khi bị bó buộc, th́ chẳng bao giờ ‘kịp
thời bổ sung các văn bản’. Hơn nữa,
bổ sung cách nào cũng bất cập bao lâu đảng
cộng sản chưa thật sự chấp nhận
tự do dân chủ. Chính v́ vậy nên mỗi khi ‘cho phép’
một tự do (như tự do in ấn sách đạo,
tự do cử tu sĩ đi du hoc…), đảng phải rào
lại bằng những ‘quy định cụ thể’.
Để giữ vững độc quyền trước
sức ép của thực tại, càng ngày càng phải
bổ túc những quy định cụ thể, tức
những quy định đi vào đời sống cụ
thể của tôn giáo. Mà đời sống cụ thể
lại hết sức giàu có, hết sức đa dạng.
Làm sao quy định được ? Một quy định,
chi tiết mấy đi nữa cũng mang tính cách chung (général),
trừu tượng, không thể ôm hết được
cái riêng tư, cụ thể. Không ai làm luật cho một
trường hợp cụ thể. Mà chính quyền này
lại đ̣i cai quản hết mọi mặt của
nếp sống tôn giáo cụ thể. Thành
ra luẩn quẩn, mâu thuẫn, ngớ ngẩn. Pháp
lệnh vừa ra là một điển h́nh. Mấy
chục bản dự thảo để dẫn tới
một văn bản đầu cua tai nheo. Trên nguyên
tắc, Pháp lệnh là của Quốc hội, cơ quan
lập pháp. Từ trước tới nay, Bộ Chính
Trị, Ban Chấp hành Trung ương, Hội đồng
Bộ trưởng hay Chính phủ tức Đảng và Nhà
nước cai quản, chén ép tôn giáo với những
Nghị định, Nghị quyết về tôn giáo. Nay, trước
sức ép của dư luận trong nước và đ̣i
hỏi của thời cuộc, ta cũng tam quyền phân
lập. Nhà nước, cơ quan hành pháp tôn trọng cơ
quan lập pháp, Quốc hội. Quốc hội lại dân
chủ đến nỗi dự thảo đi, dự
thảo lại để tham khảo ư kiến của
chức sắc, tín đồ các tôn giáo. Thế rồi
Quốc hội bàn. Kể ra cũng là một bước
tiến h́nh thức về dân chủ. Có điều
nếu Quốc hội có bàn cũng là để gật
theo Nghị Quyết của BCHTƯ.
Đọc, rồi so sánh
Nghị quyết, một vài bản Dự thảo Pháp
lệnh và Pháp lệnh ai chẳng thấy có nhiều sai
biệt, mâu thuẫn ? Mâu thuẫn ngộ nghĩnh
nhất hẳn là điều 38 của Pháp lệnh : “
Trong trường hợp điều ước quốc
tế mà Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam kư
kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy
định của Pháp lệnh này th́ thực hiện theo
quy định của điều ước quốc tế
đó ”. Chiếu theo điều 38 này, chẳng
những Pháp lệnh, mà mọi nghị định,
nghị quyết, chỉ thị về công tác tôn giáo,
hoạt động tôn giáo của đảng CSVN từ trước
tới nay, đều phải hủy bỏ hết. Ngay cái
Quốc hội nặn ra một Pháp lệnh như thế
cũng nên giải tán. Lư do quá hiển nhiên : những
điều ước quốc tế mà CHXHCNVN đă kư
kết hoặc gia nhập không cho phép đàn áp bất
cứ cá nhân hay tập thể nào v́ lư do tôn giáo. Đ̣i
đi vào mọi trường hợp cụ thể, rồi
tưởng cũng có thể giải toả dễ dàng
một trường hợp cụ thể hoàn toàn vượt
tầm tay của ḿnh, là những công ước quốc
tế, đảng CSVN đă tự gài bẫy trên b́nh
diện pháp lư.
Kết.
Sau khi
hết bị quản chế, Hà Sĩ Phu nói : tôi như
con cá, trước đây họ thả trong chậu, bây
giờ họ bỏ vào ao, nhưng họ muốn vớt ra
lúc nao chả được ; HY Phạm Minh Mẫn dùng
một h́nh ảnh tương tự : tự do chúng tôi
muốn to như cái bàn, nhưng tự do chúng tôi có, nó bé
bằng cái đĩa. Ban bố những tự do, rồi
cố rào thật kín. Nhưng tùy từng trường
hợp cụ thể. Cái ao dành cho HY Mẫn, một vị
lănh đạo tôn giáo bề thế, không giống cái ao
thả Hà Sĩ Phu. Cái ao cho Tin Lành miền đồng
bằng không giống cái ao cho Tin Lành miền Thượng,
cái ao cho Phât giáo khác cái ao cho Công giáo… Có nhiều
thứ ao, có nhiều thứ hàng rào. Làm sao mà rào kín
được khi phải sắm hàng rào cho từng trường
hợp và vừa rào vừa mở rộng hàng rào ?
Rốt cuộc, càng rào, càng nhiêu sơ hở.
Lách qua
những sơ hở ấy mà sống, mà hành đạo,
ḥng từng bước đẩy lùi những hàng rào,
mở rộng những cái ao, hay xé rào, vượt biên,
cắt đứt dây tḥng lọng ? Nhưng ‘quá khích’
như lm Nguyễn Văn Lư, có mấy người ?
Vậy chế độ độc tài vẫn tồn
tại và vẫn sẽ tiếp tục nhượng bộ
từng bước ? Việt Nam vẫn sẽ vừa
đi vừa cột chân trong khi Âu Mỹ và ngay những nước
láng diềng dùng đôi hia vạn dặm ?
Làm ǵ
đây để thay đổi t́nh h́nh ? Thán phục
và nhiệt liệt yểm trợ những người xé
rào, t́m hiểu, cảm thông, hỗ trợ và thúc đẩy
những người đang mở rộng mọi ao
hồ, đẩy lùi những hàng rào để một ngày
rất gần ao hồ thông với biển cả, để
mọi hàng rào chỉ c̣n là biên giới pháp luật
bảo vệ tự do của mỗi người và cho
mọi người : thiết tưởng đó là
ước vọng và bổn phận của mỗi chúng
ta.
Paris 25.10.04
[i]
Đă đăng trên những báo Mục Vụ,
Diễn đàn Giáo dân, Viễn tượng Việt Nam
[ii]
Thư viết cho ông Đỗ Mười và Bản
Nhận Định về những sai lầm tai hại
của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
với Dân tộc và Phật giáo Việt Nam. Xem Phật
giáo Thống Nhất, Thống nhất Phật giáo.
TIN. Paris 1994
[iii]
“Trước
khi trở thành Đảng viên Đảng CSVN, Ông Dươn
đă theo học một năm, có thể với tính cách
một người của kháng chiến cài vào làm công
tác cơ sở, tại
Trường Kinh Thánh Đà Nẵng, tham gia kháng
chiến, rồi tập kết ra Bắc. Năm 1960, Ban
Tôn giáo Chính Phủ đưa Ông này vào chức vụ
Phó Hội Trưởng Tổng Hội để điều
khiển Tổng Hội. Ban Tôn giáo bắt buộc Giáo
Hội phải nhận Lê Văn Dươn (…)
Ông Duơn lôi kéo những thành phần
có tham vọng chức quyền trong hàng ngũ giáo
hội, bố trí họ vào các chức vị lănh đạo
trong Tổng hội để lèo lái giáo hội đi
theo đường lối chính trị xă hội dưới
sự chỉ đạo của Ban Tôn giáo. Trước
t́nh cảnh đó, nhiều tín đồ chân chính trong
Hội Thánh đă thẳng thắn lên tiếng công khai
phản đối. Kết quả là những tín đồ này bị loại
trừ lập tức bằng nhiều biện pháp. Ban
Thanh niên, trong đó có
những người chống đối, bị giải
tán; họ bị chụp mũ là phản cách mạng,
bị chính quyền bức bách nhiều cách thật
điêu đứng, bị Ban lănh đạo giáo
hội trù dập... Nhưng rồi chính Lê Văn Dươn
đă tự hủy danh dự và chức vụ của
ḿnh bằng một hành động vô đạo đức
mà mọi người trong giáo hội và cả người
ngoài đều biết là cưỡng dâm nhiều
lần một phụ nữ người Trung quốc.
Việc này đổ bể gây gương xấu cho giáo
hội và xă hội, nên ông bị trục xuất
khỏi giáo hội. Chính quyền hết sức bao che bênh
vực, nhưng trước sức ép dư luận
của quần chúng tín đồ cũng như thái
độ kiên quyết của phía chính quyển Trung
quốc, Lê Văn Dươn phải ra hầu ṭa và
bị phạt ba năm tu (1963) Vụ Lê Văn Dươn
mang lại nhiều hậu quả tiêu cực gây tai
tiếng cho nhiều giới liên hệ: uy tín của Ban
Tôn giáo chính phủ sút giảm, tâm trí của các tín
đồ không được b́nh an, v́ trong hàng ngũ
giáo hội có sự chia rẽ và hoài nghi. Nhiều người
ưu tú trong cộng đoàn Tin lành đă v́ chuyện
xấu xa này ra khỏi giáo hội”. (Đạo Tin Lành
ở miền Bắc Việt Nam, 1954 – 1994. Tài
liệu nghiên cứu của Lê Khả Tín, viết năm
2001, chưa in, dài 28 trang A4).
[iv]
Phải một cái, dái đền già : người
ta lầm một lần, không ai lầm hai lần!
Lầm hai lần trong cùng một sự việc th́ không
c̣n là lầm nữa, đó là cố ư. Tục ngữ
la tinh : errare humanum est, perseverare, diabolicum est / người
ta ai cũng có lúc lầm, nhưng ngoan cố trong cái
lầm th́ thật là quái quỷ.
[v]
Xem chứng từ của Đỗ Trung Hiếu, người
của Uỷ ban Tôn giáo Chính phủ trong Phật giáo
Thống nhất, Thống nhất Phật giáo. Tin,
Paris 1994.
[vi]
Trong một chế độ toàn trị, bất cứ
kẻ nào có quyền, đều có toàn quyền trong lănh
vực của ḿnh ; v́ thế tuỳ tiện,
thiếu sót, lệch lạc là lẽ tự nhiên. Cái
đó gọi là ‘hạ cấp làm liều’. Để
tránh thiếu sót, lệch lạc, phải khai trừ
tuỳ tiện. Nhưng muốn khai trừ tuỳ
tiện, phải huỷ bỏ độc tài.
[vii]
Trích thư ông chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang, ngày
27.06.77 : “đồng bào các dân tộc thiểu
số ở tỉnh ta nói chung, đồng bào Mông nói
riêng từ trước tới nay không ai theo đạo,
th́ ngày nay không ai được phép vận động
bà con ta theo đạo và bà con ta có quyền từ
chối không theo bất cứ đạo nào v́ đó
không phải là truyền thống của người Mông
ta. Thực tế trong mấy năm gần đây có
một số người do không hiểu đúng
quyền tự do tín ngưỡng và có kẻ xấu
lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng đă
vận động và theo đạo : lúc th́ Kitô, lúc th́
Tin Lành. (…) V́ vậy tôi trả lời cho bà con ta
biết là: bà con ta không được mắc lừa
kẻ xấu mà đi theo đạo; hăy dùng quyền
của bà con ta được Nhà nuớc xác định
là có quyền không theo bất cứ đạo nào mà
đoàn kết chung sống cùng nhau lao động
sản xuất và học văn hóa để xây
dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc”.
Trích bản Cam kết của ‘bà con
ta’ phải làm sau khi ‘học tập’ :
Tôi xin cam kết thực hiện như sau :
1. Bản thân tôi và gia đ́nh không tham
gia học tập theo đạo Tin Lành, trở lại
với phong tục tập quán của người Mông.
2. Có trách nhiệm tuyên truyền
vận động bà con trong thôn bản và trong xă không
nghe và đi theo đạo Tin Lành, không di cư tự
do.
3. Có trách nhiệm cung cấp thông tin báo
cáo cho cấp ủy, chính quyền địa phương,
những người tiếp tục tuyên truyền theo
đạo và những đối tượng từ
địa bàn khác đến tuyên truyền học
đạo.
4. Nếu tôi làm trái với bản
cam kết này, tôi xin chịu trách nhiệm trước
cơ quan pháp luật (chúng
tôi ấn mạnh).
Mạng
Lưới Nhân Quyền Việt Nam
[Trang
nhà] [Về MLNQ]
[Luật Nhân Quyềnn]
[Tài liệu] [Tin
nhân quyền] [Diễn
đàn] [Tham gia]
[Tải xuống] [Liên
kết]